Thương mại, Cạnh tranh, Sở hữu trí tuệ

Các quy định về hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005

Cập nhật: 31-07-2009

Các nội dung được đưa ra trong buổi tọa đàm là các tham luận, gồm:

Tham luận thứ nhất là của ông Nguyễn Am Hiểu, Phó Vụ trưởng Vụ pháp luật Dân sự - Kinh tế về “đề xuất sửa đổi bổ sung phần nghĩa vụ và hợp đồng”. Nội dung của tham luận là: các quy định về nguyên tắc tự nguyện, tự định đoạt các bên được đảm bảo bằng cách nào, trong trường hợp nào bị hạn chế; Vai trò của Tòa án đối với pháp luật dân sự, Có nên quy định một số loại Hợp đồng đã được quy định trong các luật chuyên biệt khác không như: Hợp đồng bảo hiểm, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, sở hữu trí tuệ….; Đại diện, thời hiệu, thời hạn thực hiện nghĩa vụ…; Nguyên tắc xác định lỗi trong dân sự; Có cần xác định lỗi trong mọi trường hợp vị phạm hay không.

Tham luận thứ hai là “một số vấn đề về luật Hợp đồng” do Luật sư Trần Anh Đức, Công ty luật VILAF trình bày. Tham luận đã chỉ ra sự khác biệt giữa Hợp đồng dân sự và Hợp đồng thương mại đồng thời chỉ sự khó khăn khi phân biệt hợp đồng thương mại với hợp đồng dân sự trong một số trường hợp như hợp đồng vay nợ giữa hai công ty có lãi…Tham luận còn nêu mốt sô điều quy định không rõ rang thề nào là: “bình đẳng”, “đạo đức xã hội”, “có thiện chí”. Vấn đề đại diện, phạm vị ủy quyền và áp dung tập quán quốc tế khi nào cũng được đề cập đến
Tham luận thứ ba là “ Khuyến nghị sửa đổi một số điều về giao dịch dân sự được quy định trong bộ luật dân sự 2005” của TS. Nguyễn Văn Cường, Thẩm phán – Phó Viện trưởng Viện Khoa học xét xử Tòa án nhân dân tối cao. Nội dung của tham luận gồm: khuyến nghị loại bỏ phần giao dịch dân sự được quy định tại chương 6 Phần thứ nhất của Bộ luật dân sự, ông Cường cho rằng có sự bất hợp lý trong cơ cầu Bộ luật dân sự, nội dung có nhiều điểm trùng lặp như: Điểu 122, Điều 124, Điều 134, Điều 401, Điều 649 BLDS… đều quy định về hình thức giao dịch. Đối với vấn đề giao dich dân sự vô hiệu thì ông Cường cho rằng chỉ cần căn cứ vào điều 122 mà không nên căn cứ thêm vào điều 127. Tham luận còn khuyến nghị loại bỏ vấn đề không tuân thủ quy định về hình thức của Hợp đồng là điều kiện tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu.
Tham luận thứ tư là “ Quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về nhầm lẫn trong giao dịch dân sự” của TS Nguyễn Văn Đại, Trưởng Bộ môn Luật Dân sự, Đại học luật TP Hồ Chí Minh. Nội dung của tham luận gồm: Thứ nhất về nguyên nhân của sự nhầm lẫn, ông Cường nói BLDS vẫn thiếu quy định cả hai bên chủ thề cùng nhấm lẫn trong giao dịch dân sự; Thứ hai là về nhầm lẫn chủ thể trong giao kết hợp đồng vẫn chưa được quy định trong BLDS. Thứ ba là tham luận cũng chỉ ra BLDS chưa có khái niệm về nhầm lẫn.Trên đây là những vấn đề tham luận khuyến nghi hoàn thiền những quy định liên quan đến nhầm lẫn trong giao dịch dân sự.
Tham luận thứ năm là “ Những bất cập lớn trong các quy định về Hợp đồng của BLDS 2005 và những định hướng cải cách” của TS Ngô Huy Cương, Khoa Luật- Đại học quốc gia Hà Nội. Tham luận đã chỉ ra những bất cập về kỹ thuật lập pháp trong việc xây dựng BLDS và đưa ra những khuyến nghi cải cách sau: Thứ nhất , cấn phải xấy dựng một chủ thuyết trong việc pháp điển hóa luật dân sự, lấy học thuyết tự do ý chí làm trung tâm; Thứ hai là cần phải xây dựng mô hình Bộ luật dân sự trước khi viết các quy định cụ thể; Thứ ba là cần phải phải xem học thuyết pháp lý, lẽ công bằng, tiền lệ, tập quá là các loại của nguồn luật dân sự; Thứ tư là không nên tập hợp các nguyên tắc và quy tắc chung của luật dân sự vào một phần hay một quyển như hiện nay….
Tham luận thứ sáu là “ Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về hợp đồng liên quan đến nhà và quyền sử dụng đất” của ông Vũ Đình Nho, Công chứng viên, phòng công chứng số 4 Hà Nội. Nội dung của tham luận gồm: Thư nhất là có sự quy định khác nhau vể thời điểm chuyền giao quyền sở hữu bất động sản trong quy đinh của BLDS và Luật nhà ở 2006. BLDS quy định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu có hiệu lực kể tử thời điểm đăng ký quyền sở hữu, còn theo quy định của Luật nhà ở 2005 thì thời điểm chuyển giao quyền sở hữu được tính từ thời điềm hợp đồng được công chứng. Từ đó tham luận khuyên nghị nên quy định thống nhất như quy định của BLDS. Thứ hai là đối với vấn đề công chứng hợp đồng, ông Nho và các chuyên gia đều cho răng không nên coi công chứng là điều kiện để Hợp đồng có hiệu lực, mà chỉ nhìn nhận nó như là sự xác nhận về việc giao kết hợp đồng của các bên.
Ngoài các tham luận trên còn có các tham luận khác liên quan đến việc hoàn thiện chế độ pháp lý về xác lập hợp đồng của TS Nguyễn Ngọc Điện, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh; Tham luận trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong BLDS- giải pháp và hoàn thiện….
Sau mỗi bài tham luận đếu có lời bình luận và đưa ra khuyến nghị của các chuyên gia JICA trên cở sở đối chiếu, so sánh giữa Pháp luật Việt Nam với Pháp luật Nhật Bản.
 
Các tin khác: