Tài chính, Ngân hàng

Ba vấn đề nổi cộm về quản trị DN niêm yết

Cập nhật: 12-12-2010

Kết quả trung vị cho 5 lĩnh vực QTCT chỉ là 43,9%, mặc dù năm 2007, Bộ Tài chính đã ban hành Quy chế QTCT áp dụng cho các công ty niêm yết, dựa trên các nguyên tắc về QTCT của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) - một tài liệu tham khảo thông lệ quốc tế QTCT quan trọng.

Cụ thể, kết quả trung vị của 100 DN niêm yết, trong đó 78 DN trên HOSE và 22 DN trên HNX, đối với mức tuân thủ yêu cầu về “quyền của cổ đông” là 46,8%; yêu cầu về “đối xử công bằng với cổ đông” là 65,1%; yêu cầu về “vai trò các bên liên quan trong quản trị công ty” là 29,2%; yêu cầu về “công bố thông tin và sự minh bạch” là 39,4%; yêu cầu về “trách nhiệm của HĐQT” là 35,3%. Đây là minh chứng cho thấy, cam kết thực sự cho QTCT tốt vẫn chưa được hình thành ở Việt Nam.

Nếu chia các DN thành 3 nhóm, nhóm 1 là nhóm 25% DN có điểm QTCT cao nhất, nhóm 2 là nhóm 50% DN có điểm QTCT ở mức trung bình, nhóm 3 là nhóm gồm 25% DN có điểm số QTCT thấp nhất, thì khi so sánh giữa 2 nhóm có điểm số cao nhất và thấp nhất, kết quả là các DN có QTCT tốt hơn là những DN có giá trị thị trường cao hơn, được đo bằng chỉ số Tobin’Q. Tobin’Q là tỷ số giữa tổng giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu và vốn vay chia cho giá trị sổ sách của tổng tài sản của DN. Tobin’Q của nhóm 1 bình quân là 1,6, trong khi các DN còn lại là 1,3. Tỷ số giữa giá trị thị trường với giá trị sổ sách (M/B) của các DN nhóm 1 là 2,5, trong khi nhóm 2 là 1,7, nhóm 3 là 1,6.

Đặc biệt, những DN với các thông lệ QTCT tốt hơn cho thấy khả năng lợi nhuận cao hơn. ROE của các DN có QTCT tốt bình quân là 23,5%, vượt khá xa so với các DN có QTCT kém khi ROE chỉ là 16,6%. Tương tự đối với chỉ số ROA, với 11,3% so với 8,3%.

Các chuyên gia thực hiện khảo sát cho rằng, khuôn khổ pháp lý về QTCT tốt không đảm bảo việc chấp nhận và thực thi nếu các công ty không tuân thủ khuôn khổ đó. Ngoài việc thiếu nhận thức về QTCT tốt, việc thực hiện QTCT ở Việt Nam chủ yếu nhằm đối phó, tuân thủ các yêu cầu quy phạm nhiều hơn là tự nguyện cam kết nâng cao thực tiễn QTCT trong DN.

Ông Nguyễn Vũ Quang Trung, Phó tổng giám đốc Sở GDCK Hà Nội cho biết, từ khi Quyết định 12 về QTCT có hiệu lực, QTCT tại các DN niêm yết đã có những tiến bộ. Các DN đã xây dựng điều lệ tuân thủ Luật Doanh nghiệp và quy định niêm yết; xây dựng quy chế nội bộ về QTCT và đưa vào áp dụng thực tế. Tuy nhiên, đa số quy chế quản trị vẫn còn sơ sài và dập khuôn Quy chế mẫu. Đặc biệt, ông Trung chỉ ra 3 vấn đề nổi cộm trong QTCT mà các DN cần phải khắc phục, đó là phải đảm bảo quyền của cổ đông, củng cố trách nhiệm của HĐQT, tăng cường công bố thông tin và tính minh bạch.

Trong kết quả khảo sát nêu trên có một số điểm đáng chú ý là: DN có quy mô lớn có điểm QTCT cao hơn DN nhỏ; DN có điểm QTCT cao có tỷ lệ thị giá/giá trị sổ sách cao và ngược lại; DN có điểm QTCT cao có ROE và ROA cao.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, có một mối quan hệ tích cực giữa QTCT tốt với lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh của DN. Theo ông Juan Carlos Fernandez Zana, Giám đốc Dự án QTCT tại Việt Nam của IFC, QTCT tốt sẽ giúp DN tạo được lợi nhuận vững chắc, tăng cường khả năng phát triển và huy động tốt hơn các nguồn vốn. Yếu tố then chốt trong quyết định đầu tư vào một DN là lòng tin. Lòng tin được phản ánh thông qua một hệ thống QTCT tốt. Nếu không tạo dựng được lòng tin, DN sẽ rất khó thu hút được các nhà đầu tư. Điều này ngày càng trở nên đúng hơn bao giờ hết, đặc biệt từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Bên cạnh đó, việc QTCT tốt sẽ giúp DN tạo dựng uy tín, thu hút được đội ngũ lao động tốt và gắn bó với công ty.

Các chuyên gia khuyến nghị, các DN nên chú trọng đến cải tiến thông lệ QTCT. Trong giai đoạn đầu, có thể thực hiện một số cải tiến ngắn hạn để có thêm động lực và thời gian để giải quyết các vấn đề phức tạp hơn trong dài hạn.

Một số khuyến nghị chung được đưa ra để hoạt động QTCT ở Việt Nam được tốt hơn, đó là: cần đào tạo thêm về QTCT; làm rõ các quy chế, quy định và hướng dẫn; kiểm soát và thực thi chặt chẽ việc tuân thủ các quy định hiện hành; nâng cao sự quan tâm của công chúng để tăng cường sự thừa nhận của cổ đông và cộng đồng về QTCT; thêm các thành viên HĐQT độc lập, công bố thông tin tốt hơn…

IFC đã cùng với UBCK xuất bản cuốn Cẩm nang QTCT, với mục tiêu đưa ra những kiến thức, kinh nghiệm quốc tế và các thông lệ tốt nhất về QTCT, so sánh với thực tế ở Việt Nam, giúp cho các DN có định hướng, nâng cao hiểu biết và cải thiện tình hình QTCT. Đồng thời, đưa ra những khuyến nghị cho các cổ đông, DN và Chính phủ trong việc thực hiện và giám sát các tiêu chuẩn quản trị tốt.

Bà Vũ Thị Kim Liên, Phó chủ tịch UBCK cho biết, Ủy ban đang soạn thảo Quy chế QTCT áp dụng cho các công ty đại chúng, cả niêm yết và chưa niêm yết, trình Bộ Tài chính ban hành sau khi Luật Chứng khoán sửa đổi, bổ sung có hiệu lực (1/7/2011).

 
Nguồn: Theo www.tinnhanhchungkhoan.vn
Các tin khác: